Thursday, October 17, 2013 trang chính || lưu trữ || liên lạc
Chắc ông Võ Nguyên Giáp cũng chẳng biết gì nữa, về chuyện họ ngưng để tang ông vào giờ Ngọ. Ông cũng không biết Sứ Quán Trung Cộng không hề đến viếng tang ông, dù trụ sở của họ ở rất gần nhà ông. Khi nhiều người thắc mắc, sứ quán trả lời rằng họ có viếng tang. Nhưng viếng tang ở Sài Gòn. Xác người ta quàn ở Hà Nội, cáo phó ghi địa chỉ rõ ràng. Vậy mà lại đem vòng hoa đến viếng ở Sài Gòn! Có thể giải thích hành động này. Nếu viếng tang ở Hà Nội thì ông đại sứ phải tới. Còn ở Sài Gòn thì một viên chức thấp hơn tới cũng được. Bắc Kinh muốn chứng tỏ đối với họ ông Giáp không đáng được thăm viếng ở cấp đại sứ; cho một tổng lãnh sự hay cấp thấp hơn viếng là đủ rồi. Bây giờ thì người ta lại nhớ: Các cố vấn quân sự Trung Cộng, như Vi Quốc Thanh, Trần Canh, đều coi thường ông Giáp. Họ viết rõ ràng trong hồi ký của họ. Trong đám các lãnh tụ cộng sản đợt đầu, 1945, 46 ở nước ta, ông Võ Nguyên Giáp là người ít bị mang tiếng thân Trung Cộng, so với Hồ Chí Minh hay Trường Chinh. Hành động đáng nói sau cùng của ông Giáp là phản đối vụ cho Trung Cộng khai thác Bô xít. Các đồng chí Bắc Kinh không bao giờ tha thứ. Nhiều đảng viên cộng sản ở trong nước đã bầy tỏ lòng quý mến đối với ông Võ Nguyên Giáp; chính vì họ thấy Trung Cộng ghét ông. Có lẽ cách tốt nhất để tiếp tục tỏ lòng quý mến ông là họ nên vận động xóa bỏ cái đảng cộng sản đi. Trong đời ông, mối nhục lớn nhất của Võ Nguyên Giáp là ông hoàn toàn bất lực khi các tướng, tá đàn em bị tù đầy. Họ bị trù ếm chỉ vì họ từng thân tín đối với ông. Ngoảnh mặt làm ngơ khi các đàn em bị hành hạ, đó là một nỗi nhục. Ông Võ Nguyên Giáp còn bị các đối thủ làm nhục công khai, khi bắt ông đứng chỉ huy chiến dịch ngừa thai. Thà rằng như Ðặng Tiểu Bình, bị hạ xuống làm công nhân nhà máy; hay Lưu Thiếu Kỳ, bị bắt đi chăn cừu, còn đỡ nhục hơn. Tại sao Võ Nguyên Giáp lại chấp nhận để người ta làm nhục như vậy? Vì ông là một đảng viên cộng sản tốt. Một đảng viên tốt thì chấp hành, tuân phục bất cứ việc gì mà “đảng” bảo phải làm. Ðảng cộng sản đã xóa bỏ nhân cách của các đảng viên. Họ không được phép có tư cách riêng, danh dự riêng, cũng như các tình cảm hay quyền lợi riêng. Võ Nguyên Giáp có thể tự biện minh mình đóng đúng vai trò đảng viên, không có gì hối hận. Một điều mà ông ta, cũng như nhiều đảng viên cộng sản khác, không tự hỏi, là cái đảng cộng sản mà họ đã tuyên thệ gia nhập, có còn là một đảng cộng sản hay không? Họ không dám đặt câu hỏi này, vì mở miệng ra là sẽ mất hết các quyền lợi dành cho các đảng viên; có thể chết nữa. Nhưng ai cũng biết, hiện nay ở Trung Quốc và ở Việt Nam không còn đảng cộng sản nào nữa. Khi thu nhận các nhà kinh doanh tư vào đảng, và công nhận quyền kinh doanh của các đảng viên cộng sản, Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng như Ðảng Cộng Sản Trung Quốc không còn là “cộng sản” nữa. Các vị lãnh đạo hai đảng này cố biện minh bằng các lý luận, như “Ðảng phải là đại biểu của lực lượng sản xuất tiến bộ nhất” (lý thuyết Giang Trạch Dân;) hoặc phải “giải phóng sức sản xuất” (Dự thảo Báo cáo chính trị, đảng Cộng Sản Việt Nam). Các lý thuyết trên bao hàm một nhận xét thực tế: Trong xã hội Trung Hoa hay Việt Nam hiện nay, giai cấp tư sản đang thành hình là lực lượng sản xuất tiến bộ nhất. Vai trị tiền phong của giai cấp tư sản cũng được Karl Marx đề cao, khi ông quan sát sự chuyển biến từ thời kỳ phong kiến sang kinh tế tư bản. Các quyết định thay đổi của hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam chỉ thể hiện diễn biến mà Marx mô tả: Chế độ phong kiến chuyển dần sang chế độ tư bản. Xã hội Trung Hoa và Việt Nam hiện nay vẫn còn đầy di sản của thời phong kiến do Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn lập nên, cần phải dẹp bỏ thì mới tiến bộ được. Chúng ta vẫn phải đặt thêm một câu hỏi, là: Tại sao quý vị lãnh đạo trong các đảng Cộng Sản ở Trung Hoa và ở Việt Nam không thành thật một lần trong đời, trong đời sống cá nhân cũng như đời sống đảng viên, bằng cách tuyên bố thẳng rằng họ thôi, ngưng, stop, từ nay không theo đuổi chủ nghĩa Mác Lê nin nữa? Khi một đảng chính trị tự đặt mình vào tình trạng phải tự mâu thuẫn với chính mình (mâu thuẫn giữa cương lĩnh, lý thuyết, với hành động thực tế), thì sẽ làm hư hỏng cả giềng mối tinh thần của cả quốc gia. Khi một ông vua hay một đảng cầm quyền nói một đằng, làm một nẻo, thì chữ TÍN không còn được coi trọng nữa. Không lấy chữ TÍN làm căn bản trong các mối tương quan, trong mọi giao tế xã hội, thì sẽ không còn một hệ thống đạo đức. Hơn thế nữa, cũng không thể phát triển tinh thần tôn trọng luật pháp, là nền tảng của mọi sinh hoạt kinh tế, chính trị trong thế giới hiện đại. Tái lập chữ TÍN trong xã hội là điều quan trọng và đáng theo đuổi hơn là thực hiện bất cứ một chủ nghĩa mơ hồ và không tưởng nào.Về mặt chính trị, ở hai nước Trung Quốc và Việt Nam, chế độ toàn trị (totalitarian) đã biến dần sang một chế độ độc tài (authoritarian) bình thường. Guồng máy của đảng và nhà nước không còn kiểm soát được tất cả đời sống xã hội nữa. Xã hội đã tách rời khỏi chế độ. Giới lãnh đạo đảng đã nhận thức được giới hạn của quyền lực mà họ đang nắm. Ðời sống mỗi cá nhân không còn hoàn toàn tùy thuộc vào đảng và nhà nước nữa. Nhưng giới lãnh đạo đảng cộng sản không còn khả năng kìm hãm các biến chuyển, vì chính họ đang bước vào một cuộc phiêu lưu mới, không biết sẽ hướng vào đâu. Tại Ba Lan, Tiệp, Slovack, Hungary, những đảng cộng sản ở đó có góp phần chủ động thúc đẩy cuộc “cách mạng nhung” để thiết lập thể chế mới, khi đó chính họ phải rời khỏi chính quyền. Nhờ thay đổi toàn diện và nhanh chóng, sau hai mươi năm kinh tế các nước này đã tiến rất nhanh. Các đảng viên cộng sản cũ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, họ có nhiều kinh nghiệm chính trị hơn các đảng phái mới, họ có thể trở lại nắm quyền hnh dưới ngọn cờ khác. Ở Trung Quốc và Việt Nam thì không. Giới lãnh đạo cộng sản không dám rút khỏi chính quyền, tự mò mẫm con đường đổi mới từng bước một, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Riêng đảng Cộng Sản Việt Nam thì còn dè dặt hơn, đợi Trung Quốc thí nghiệm cái gì trước rồi mới theo. Nhưng có những vấn đề mà chính đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng không giải quyết nổi. Một vấn đề lớn là guồng máy quản lý xã hội cũ vốn được vạch ra để cai trị trong một hoàn cảnh đơn giản, có cấp bậc trên dưới rõ ràng. Guồng máy này không còn thích hợp để cai quản một xã hội phức tạp; các tương quan cũ bị đứt, bị vỡ, và các tương quan mới đã nẩy sinh. Tương quan cũ dựa trên hệ cấp quyền hành, bây giờ thêm tương quan dựa trên tiền bạc, lợi lộc. Ðảng cộng sản không dám xóa bỏ hệ cấp quyền hành, nhưng vẫn phải công nhận hệ thống duy lợi. Hệ cấp quyền hành dựa trên đảng, trên tương quan quyền lực cá nhân. Hệ thống duy lợi dựa trên tiền, nhưng không có các luật lệ ràng buộc như trong các nước tư bản lâu đời. Hai mạng lưới đó chồng chéo lên nhau, tất nhiên đẻ ra tham nhũng. Ðó là một hiện tượng làm uy tín của đảng cầm quyền bị ở Trung Quốc và Việt Nam suy sụp. Một hiện tượng khác là hệ quả của nền kinh tế tư bản phi luật pháp là tình trạng bất công về lợi tức, thu nhập và tài sản ngày càng cao và càng hiển nhiên. Không những bất công trong thu nhập, trong tài sản, mà hệ cấp quyền hành của đảng còn tạo ra cảnh bất công trong cơ hội sống và kiếm ăn nữa. Trong khi ý thức hệ được tuyên dương vẫn đề cao một xã hội bình đẳng, trong thực tế thì chính chế độ này lại nuôi dưỡng cảnh bất bình đẳng. Niềm tin của chính các đảng viên, ngay cả giới lãnh đạo đảng, cũng hao mòn. Hiện nay, cuộc đổi mới kinh tế thúc đẩy tinh thần duy lợi và vị kỷ. Khơi dậy những điều xấu xa đó không khó gì cả. Chỉ cần buông thả ra là lòng tham, óc vị kỷ sẽ tự phát triển. Không có đạo đức để kiềm chế, cũng thiếu cả luật pháp để ràng buộc, nền luân lý bị đổ vỡ. Trong lịch sử loài người, óc duy lợi và tính ích kỷ luôn luôn phải kèm theo một hệ thống các quy tắc luân lý hoặc giáo lý kiềm chế. Kinh tế tư bản phát sinh trong những xã hội đã có một nền luân lý cổ truyền, và chính các truyền thống tôn giáo giúp kiềm chế óc duy lợi, ích kỷ, để lái động lực tìm lợi lộc, hướng chúng vào các giá trị tinh thần. Khi kinh tế tư bản được thả lỏng trong một xã hội mất nền tảng, đạo lý đang tan rã, thì những điều xấu xa nhất của lối làm ăn đó tha hồ nẩy nở và tung hoành. Ðó là hoàn cảnh nước ta và Trung Quốc bây giờ. Nói một đằng làm một nẻo, tất cả ý thức hệ cộng sản đã phá sản, không còn ai tin nữa, kể cả các đảng viên. Ðó là bị kịch của cả dân tộc. Muốn lập lại chữ TÍN trong xã hội Việt Nam bây giờ, chính những người có trách nhiệm, tức là giới lãnh đạo đảng Cộng Sản, phải nói thẳng, nói thành thật với mọi người: Từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Ðiều đó không có gì xấu, không có gì phải che đậy và trì hoãn. Vì chính họ đã không còn chủ nghĩa cộng sản tin nữa! Ông Võ Nguyên Giáp sống như một đảng viên cộng sản gương mẫu suốt đời: Luôn luôn tuân thủ, chấp hành các quyết định của đảng. Cái đảng đó đã làm ông mất tư cách, mất cả danh dự. Chỉ vì ông đã học tập và thể hiện “đạo đức cách mạng” do Hồ Chí Minh dạy: Không có thứ đạo đức nào cao bằng tinh thần kỷ luật của đảng viên. Những người còn giữ lòng quý trọng ông nên giúp ông làm một việc mà chính ông không làm được: Xóa bỏ đảng cộng sản. Nó không những tiếp tục giết chết nhân cách của các đảng viên khác, mà còn làm bại hoại của nền đạo lý của dân tộc! (17.10.2013) Cái chết của Tướng Võ Nguyên Giáp còn nhiều tranh cãi Thiện Ý- 15.10.2013 http://www.voatiengviet.com/content/cai-chet-gay-tranh-cai-cua-tuong-giap/1770066.html Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, một danh tướng của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam vừa nằm xuống hôm mùng 4 tháng 10 năm 2013 vừa qua tại Hà Nội, hưởng đại thọ 103 tuổi. Cái chết này đã đưa đến những phản ứng trái ngược trước công luận người Việt Nam trong và ngoài nước. Phản ứng này có lẽ là hệ quả tất nhiên của một cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam, đã kéo dài trong nhiều thập niên qua và vẫn đang còn tiếp tục. Những người theo ý thức hệ Cộng sản thì ca ngợi Tướng Võ Nguyên Giáp như là một người yêu nước, vì xuất thân là một trí thức tiểu tư sản (tốt nghiệp Trường Luật, giáo sư sử học tư thục Thăng Long ở Hà Nội…) ,do thúc đẩy của lòng yêu nước đã rời bỏ tương lai tươi sáng trước mặt, vào bưng biền tham gia kháng chiến chống chế độ thực dân Pháp để giành độc lập cho dân tộc. Nhưng người quốc gia thì cho rằng cũng như nhiều người thanh niên khác,Võ Nguyễn Giáp lúc đầu tham gia kháng chiến có thể là do thúc đẩy của lòng yêu nước thật, nhưng sau đó trở thành một người Cộng sản thì mất bản sắc dân tộc, tham gia kháng chiến để giành “thuộc địa kiểu mới” cho các đế quốc đỏ Nga-Tầu, mở mang bờ cõi cho quốc tế Cộng sản, áp đặt chế độ Cộng sản trên đất nước, trái với ý nguyện của nhân dân. Người Cộng sản ca ngợi Tướng Giáp như là một “thiên tài quân sự” vì dù không được đào tạo từ một trường quân sự nào, cấp bậc khởi đầu binh nghiệp đã là một Đại tướng vào năm 37 tuổi do lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam là Ông Hồ Chí Minh phong cho năm 1948 và chỉ huy võn vẹn chỉ có 34 người trong “Đội Võ Trang Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân” lúc ban đầu. Thế nhưng trong cuộc đời binh nghiệp Tướng Võ Nguyên Giáp đã tạo được nhiều chiến công hiển hách vang dội toàn cầu, được nhiều người viết sách ca ngợi và các danh tướng đối phương cũng phải ngưỡng phục. Nhưng theo người Việt quốc gia thì tất cả chỉ là huyền thoại do đảng Cộng sản Việt Nam tạo ra, đạo diễn như một kịch bản khiến nhiều người dân trong nước cũng như những người ngoại quốc thiếu am tường về tổ chức, hoạt động và thủ đoạn chính trị của đảng CSVN lầm tưởng mà ca ngợi, ngưỡng phục, và thương tiếc trước sự ra đi của Tướng Giáp. Sự tạo ra huyền thoại, thần thánh hóa các lãnh tụ cộng sản vì lợi ích chính trị cũng như tạo ra các nhân vật anh hùng điển hình trong chiến tranh để thúc đẩy chiến binh liều chết hy sinh cho sự nghiệp của đảng Cộng sản chỉ là chuyện thường tình trong thế giới Cộng sản thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Tướng Giáp không là ngoại lệ. Thực chất cũng như thực tế, những chiến công được khoác cho Tướng Giáp là chiến cộng của tập thể, của những người lãnh đạo hàng đầu của đảng CSVN như các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh và Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ là người được phân công cá nhân thực hiện, tập thể lãnh đạo hay chỉ đạo (Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư Trung Ương đảng…). Nhưng người Việt quốc gia cho rằng những chiến thắng được coi là do tài điều binh khiển tướng của Tướng Giáp chỉ là “Chiến thắng biểu kiến” (hay giả tạo). Chẳng hạn trong những chiến thắng được coi là công trang của Tướng Giáp trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954) người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Cộng. Căn cứ trên những tài liệu quốc tế và trong nước được giải mật sau này, thì chiến dịch Điện Biên Phủ được thực hiện theo kế hoạch tác chiến của một Tướng Trung Cộng cố vấn là Vy Quốc Thanh đề ra, được Ông Hồ và Bộ Chính trị Đảng CSVN chọn thông qua ngày 6-12-1953 và phân công, chỉ đạo cho Tướng Giáp thực hiện. Đồng thời, “Chiến thắng Điện Biên Phủ” cũng không là phải là nhân tố quyết định buộc Pháp phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Vì xu thế giải thực sau Thế Chiến Thứ Hai đã buộc các nước đế quốc sớm muộn phải trao trả độc lập cho nhân dân các thuộc địa. Kế đó, thời kỳ chiến tranh Quốc-Cộng được người Cộng sản gọi là “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” để ‘giải phóng Miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước”(1954-1975). Các cuộc tấn công quân sự lớn được coi là “chiến thắng” do công đầu của Tướng Giáp như: Từ “Cuộc Tổng tiến Công và Tổng Nổi Dậy Mậu Thân 1968” trên khắp đô thị Miền Nam , qua chiến dịch Xuân-Hè 1972 vào mùa Hè đỏ lửa 1972, đến “Đại Thắng Mùa Xuân 1975”, được nói là do chính Tướng Giáp là tổng chỉ huy. Nhưng người Việt quốc gia thì kết án những công trạng của Tướng Giáp như là những tội ác cá nhân góp vào tội ác chung của đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra cho dân tộc và đất nước. Chẳng hạn để có cái gọi là “Cuộc Tổng Tấn Công và Tổng Nổi Dậy Mậu Thân 1968 thắng lợi”(!?!) chính Tướng Giáp là tổng chỉ huy chiến dịch, dưới sự chỉ đạo của các lãnh tụ hàng đầu đảng CSVN. Trong chiến dịch này Tướng Giáp và đảng CSVN đã sát hại hàng vạn sinh linh quân dân người Việt Nam của cả hai miền Nam-Bắc giữa những ngày Xuân của dân tộc.Để thực hiện chiến dịch Xuân - Hè 1972 trong mùa hè đỏ lửa, Tướng Giáp đã xua quân vào vùng phi quân sự, pháo kích bừa bãi vào hàng chục ngàn thường dân đang tìm đường chốn chậy giao tranh, sát hại nhiều thường dân vô tội tạo nên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ở Miền Trung. Sau cùng, để có cái gọi là “Đại Thắng Mùa Xuân 1975”, chính Tướng Gíáp được giao trách nhiệm tổng chỉ huy “Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước” dưới chế độ độc tài toàn trị Cộng sản áp đặt trên cả nước. Giờ đây sau 38 năm thống nhất đất nước, Tướng Võ Nguyên Giáp ra người thiên cổ. Nhưng những công trạng của Tướng Giáp góp phần tạo ra chế độ độc tài toàn trị Cộng sản tại Việt Nam vẫn còn đó. Chế độ này đã làm gì, lợi hại cho dân cho nước và có lúc đã đối xử tàn tệ với chính ông một công thần như thế nào, lúc sinh tiền ắt cũng đã biết. Tướng Giáp có lên tiếng bầy tỏ thái độ phản kháng với cường độ yếu ớt như hơi thở thoi thóp của một người già yếu ở độ tuổi bách niên, chẳng có tác dụng thay đổi được gì, nên dường như đảng và nhà cầm quyền chế độ đương thời tại Việt Nam cũng chẳng hề quan tâm. Việc đánh giá Tướng Võ Nguyên Giáp có là ngưòi yêu nước, có thực là một “thiên tài quân sự” hay chỉ là huyền thoại; có là anh hùng dân tộc hay là một tội đồ dân tộc; có công hay có tội với nhân dân, dân tộc và đất nước, hiện tại vẫn còn nhiều tranh cãi, bất đồng là hệ quả tất nhiên của cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc - Cộng tại Việt Nam kéo dài nhiều thập niên qua vẫn chưa chấm dứt. Vì vậy, để có sự đánh giá tương đối chính xác, toàn diện, công bằng về cá nhân Tướng Võ Nguyên Giáp, có lẽ người ta cần chờ đợi thêm thời gian cho lịch sử sang trang, để các nhà viết chính sử Việt Nam có đủ yếu tố khách quan làm công việc chuyên môn của mình.
*** Thiện Ý nguyên luật sư tại Sài Gòn trước 1975, hiện là Chủ tịch Câu Lạc bộ Luật khoa Việt Nam ở Houston. Vài suy nghĩ về ông Giáp
“Thái độ coi nhẹ cuộc sống con người như vậy có thể khiến một người trở nên một đối thủ đáng kính nể nhưng không thể làm ông ta trở thành thiên tài quân sự được.” Reuters dẫn lại lời nhận xét của Tướng William C.Westmoreland nói ông Giáp thành công vì "ông ta sẵn sàng chịu tổn thất lớn để theo đuổi chiến thắng". "Bất kỳ một tổng tư lệnh nào của Hoa Kỳ mà chịu tổn thất lớn như Tướng Giáp đều sẽ bị cách chức ngay tức khắc,"
Ông ta đã thực sự rời bỏ cuộc chơi, đã từ giã cõi nhân sinh điên đảo này. Không ai biết ông sẽ đi về đâu nhưng ông đã để lại di sản đầy đau đớn và nhiễu nhương, để lại cho tất cả chúng ta một Việt Nam với tiếng ai oán khắp nơi. Thôi thì cũng cầu chúc ông ra đi trong thanh thản, dù ông đã lặng thinh một cách vô cảm trước những người đã ra đi một cách bi thương khác. Là người đã có công khai sinh ra một Việt Nam cộng sản, thiết nghĩ không cần bàn đến chuyện ông có lý tưởng hay không lý tưởng và sự cần thiết hay không của những cuộc chiến tranh vô nghĩa mà ông đã đóng vai trò lãnh đạo quân sự tối cao, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự im lặng của mình trước những trang lịch sử bất công, gian trá và đau thương mà người Việt Nam đã trải qua. Không ít người ca ngợi ông là một trí thức lớn, là nhà văn hoá. Tôi không muốn bàn những chuyện ấy nữa vì đã có nhiều tài liệu lịch sử có sẵn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về ông Giáp. Chỉ xin hỏi: Ông đã làm gì khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường kêu gọi dân chủ pháp trị để rồi sau đó bị thất sủng? Nếu là một trí thức lớn thực sự, lẽ ra ông phải biết dân chủ pháp trị cần cho một quốc gia như thế nào trước cả cụ Tường bởi thực tế cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã tàn phá quốc gia như thế nào? Nếu không nhận ra khiếm khuyết của một chế độ độc tài cộng sản, ông có xứng đáng với danh xưng một đại trí thức? Và cứ cho là ông không biết gì về độc tài-dân chủ, nhưng khi luật sư Tường lên tiếng về xã hội dân chủ, ông không có động tĩnh gì, đó có phải là biểu hiện của một nhân cách lớn? Lại nữa, ông đã ở đâu, đã làm gì khi những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hữu Loan bị đấu tố, bị đoạ đày? Ông có chút tủi nhục, cảm thương hay phẫn nộ nào không khi hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong tức tưởi khi Việt Nam cộng hoà bị cưỡng chiếm để rồi hàng nghìn người trong số họ đã vùi thân ngoài biển cả? Ông nghĩ gì khi tướng Trần Độ đã dũng cảm lên tiếng rồi bị đàn áp? Ông đã làm gì khi cụ Hoàng Minh Chính đã tỏ thái độ đối kháng để rồi bị bỏ tù? Ông đã đứng bên lề bao biến cố đau thương của đất nước. Đó có phải là vị trí xứng đáng của một trí thức hay không? Dù là ai, một người vừa mới qua đời nên được cầu nguyện cho sự ra đi bình an. Tôi đã rất phân vân khi viết những dòng này. Có nên viết những lời cay đắng cho một người đã chết không? Có nên kể tội họ khi họ đã mãi mãi không còn khả năng biện bạch? Nhưng quả tình, tôi không viết những dòng này nhắm vào tướng Giáp, tôi viết cho những người còn sống, cho những người còn bị ám thị bởi cái ảo ảnh hào quang mà những người cộng sản đã tạo ra. Đa số thanh niên Việt Nam hiện nay sống trong sự lừa gạt đó mà không biết, và cũng không có ý chí vượt thoát ra. Ông Giáp, vị “đại tướng quân” trong mắt nhiều thanh niên Việt Nam, là người góp công to lớn để tạo dựng và bảo vệ chế độ độc tài tàn bạo này. Ông đã sống quá xa cái tuổi “cổ lai hy” và ra đi trong tình thương yêu của gia tộc, trong sự ngưỡng vọng của nhiều người. Nhưng ông có biết đâu, một người có công gây dựng nên một tập đoàn tội ác như ông lại ra đi thanh thản và vinh quang, trong khi chính những nạn nhân vô tội của chế độ thì lại hứng chịu thảm trạng bi đát của gia đình để rồi phải ra đi trong uất ức, tủi nhục. Đó chính là một Đặng Ngọc Viết hiền lành, siêng năng bị chính quyền cướp đất, phẫn uất cùng cực đến mức phải ra tay giết chết một quan chức tỉnh Thái Bình rồi tự sát bằng một viên đạn vào tim. Đó là một Thomas Nguyễn Tự Thành-một thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương về Việt Nam từ Thái Lan, bị sách nhiễu và phong toả kinh tế liên tục bởi chính quyền cộng sản đến nỗi uất ức quá phải tự vẫn bằng cách thắt cổ vào ngày 3 tháng 10, trước ngày ông Giáp chết một ngày. Tại sao ông lại được vinh danh khi chính ông là một phần nguyên nhân của những cái chết đau đớn ấy? Tất nhiên, ông Giáp không còn là lãnh đạo đất nước từ lâu, các chính sách, hành động của chính quyền này ông không tham gia. Nhưng chính cái quá khứ “oai hùng” và cái hiện tại vô trách nhiệm của ông tạo nên tính chính đáng cho chế độ tàn ác này. Chế độ này vẫn lấy ông ra làm cái bệ đỡ để biện minh cho những hành động bán nước hại dân của họ. Ông là cái phao cứu sinh khi những người lãnh đạo cộng sản đối diện với sự căm phẫn của người dân vì sự tham quyền cố vị của họ. Không hiểu vì tuổi già làm tiêu hao ý chí, vì sự sợ hãi làm xói mòn lương tâm, hay vì danh lợi của con cháu làm tiêu tan tinh thần trách nhiệm, mà cho đến những năm cuối đời ông Giáp vẫn lặng thinh trước hiện tình đất nước vật vã dưới chế độ độc tài, vẫn để cho nhà cầm quyền tiếp tục lợi dụng ông cho chế độ bất nhẫn của họ. (Chỉ có một lần ông lên tiếng yếu ớt cho vấn đề Bauxite Tây nguyên) Giá như ông lên tiếng cổ vũ cho Nhân quyền Tự do thì tiếng nói của ông đã tác động mạnh mẽ đến lương tâm tuổi trẻ và có thể xoay chuyển ý thức của biết bao người dân đang bị ám thị. Một ông Giáp đại tướng quân chắc chắc có khả năng thức tỉnh quần chúng, làm rúng động đảng cộng sản hơn hẳn một Lê Công Định, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Phạm Thanh Nghiên hay Phương Uyên chứ? Thế nhưng, ông đã chọn cách sống trong sự co rút và chết trong cờ xí, kèn trống của chế độ cộng sản, hơn là cách sống trong sự phản tỉnh và chết như một chiến sĩ tự do. Đáng lẽ tuổi già phải là giới hạn cuối cùng của sự sợ hãi, nhưng ông đã để nó đi cùng ông sang tận thế giới bên kia. Có người nói: chúng ta không ở vị trí của ông nên không thể hiểu hết những gì ông phải đối mặt. Đúng! Chúng ta không hiểu hoàn cảnh và vị trí của ông. Nhưng chúng ta có thể hiểu được hoàn cảnh của những bạn sinh viên vì biểu tình yêu nước mà bị nhà trường đuổi học và mất cả tương lai không? Chúng ta có từng đặt mình vào vị trí Phương Uyên, cô bé sinh viên phải chịu biết bao nhiêu sợ hãi, tổn thương tinh thần khi bị bắt và giam giữ, chỉ vì cô bé biểu thị lòng yêu nước? Rồi nhiều người đối kháng khác nữa, chỉ vì lên tiếng cho Dân chủ tự do mà phải chịu những bản án nặng nề, mất cả hạnh phúc trăm năm, con cái bơ vơ- thất học. Hoàn cảnh của ông Giáp có ngặt nghèo hơn hoàn cảnh của những người kể trên hay không? Hay để dễ hình dung hơn, tình huống của ông có khó khăn hơn tình huống của tướng Trần Độ, của cụ Hoàng Minh Chính hay không? Tôi cho rằng, vấn đề là ở lương tâm và bản lĩnh! Ông đã ra đi để lại tất cả, một chế độ độc tài dai dẳng, những mảnh đời oan khuất, những cuộc đàn áp tiếp diễn, những cái chết oan khiên… Nhưng những dòng này không phải để kể tội ông. Quả thật, thế giới này tồn tại trong trạng thái tương đối của mọi giá trị. Nhưng vẫn có cách để phân biệt những trí tuệ và nhân cách lớn CHÂN THẬT với sự tô vẽ KHÔNG THẬT. Cầu cho ông ra đi được bình an và xin gởi tới ông sự cảm thương cho một kiếp người đa đoan trong thế giới vô minh này; nhưng sự tôn kính thì tôi xin giữ lại cho những con người sống với tương tâm, trách nhiệm và ý chí và chết với nỗ lực lên tiếng cho sự thật. Việt Nam còn rất nhiều người để chúng ta thành tâm ca ngợi và kính ngưỡng, nhưng đó không phải là ông. Sài Gòn tháng 10 năm 2013 |