
Wednesday, August 24, 2011 trang ch�nh || lưu trữ || li�n lạc
|
Tuổi trẻ Việt Nam, học lịch sử để l�m lịch sử Trần Trung Đạo http://www.youtube.com/watch?v=Y4Qz89H7wek S�i G�n ng�y th�ng đ� buồn như một đ�m ma. Những cụm mai v�ng ch�o đ�n xu�n sang kh�ng l�m phai đi m�u đen tang chế đang phủ tr�m l�n cả miền Nam. Những cuộc biểu t�nh rầm rộ từ Huế, Đ� Nẵng, S�i G�n, Cần Thơ kh�ng l�m vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong l�ng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản h�ng ca xen lẫn với những tiếng k�n truy điệu của c�c chương tr�nh ph�t thanh qu�n đội đ� l�m người d�n rơi nước mắt x�t thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc m�nh. Hạm đội thứ bảy h�ng hậu của Mỹ kh�a s�ng an to�n nh�n hải qu�n Trung Quốc đổ bộ Ho�ng Sa, hai ph�i đo�n Việt Nam D�n chủ Cộng ho� v� Ch�nh phủ C�ch mạng L�m thời miền Nam Việt Nam từ chối lời k�u gọi của ph�i đo�n Việt Nam Cộng ho� tố c�o Trung Quốc x�m lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng b�o ngoảnh mặt. C� nỗi x�t xa n�o lớn hơn nỗi x�t xa của số phận một tiền đồn v� c� vết thương t�m linh n�o s�u hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi ch�nh những đứa con y�u qu� của m�nh. Chiều năm đ� ngồi trong thư viện t�i c� l�m một b�i thơ v� viết một đoản văn. T�i kh�ng c�n nhớ b�i thơ nhưng đoản văn t�i c�n nhớ rất r�, v� sau n�y khi l�m website xuQuang t�i c� ghi lại trong phần tưởng niệm Ho�ng Sa: �Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim m�nh: Ho�ng Sa l� đảo Việt Nam, l� biển Việt Nam, l� đất Việt Nam. �ất nước Việt Nam c� khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam c� khi hưng khi phế, thế hệ h�m nay kh�ng giữ được Ho�ng Sa nhưng kh�ng phải v� thế m� Ho�ng Sa trở th�nh đất của Trung cộng b� quyền hay của bất cứ một quốc gia n�o kh�c. D�n tộc Việt Nam, c�c thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi n�o c�c điều kiện kinh tế, ch�nh trị v� qu�n sự cho ph�p, một trong những việc đầu ti�n l� phải lấy lại Ho�ng Sa.� Nh�n c�c em t�i lại nhớ đến ch�nh m�nh. Đường phố S�i G�n, nơi c�c em đang đứng h�m nay cũng l� nơi t�i đ� đứng đọc từng t�n của những người đ� ở lại trong l�ng biển cả. Khẩu hiệu �Hoàng Sa là của Vi�̣t Nam� cũng l� khẩu hiệu m� sinh vi�n ch�ng t�i đ� h� ba mươi ba năm trước. Ch�ng ta c� thể c�n v�i điểm kh�c nhau nhưng c� chung một tổ quốc. Đ� l� điều hệ trọng. L�ng y�u nước đ� th�c giục c�c em vượt qua bức tường sợ h�i, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nh� nước, của ban l�nh đạo trường để c�ng xuống đường n�i tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc l�m nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang t�nh thời đại, v� trang sử Việt Nam h�m nay đang được viết bởi c�c em, những người Việt Nam đang đứng trước to� đại sứ Trung Quốc ở H� Nội, trước l�nh sự qu�n Trung Quốc ở S�i G�n. V� cũng qua những biến cố lịch sử n�y, c�c em sẽ c� cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những b�i học bẽ b�ng m� từ trước đến nay đ� bị che lấp bởi hệ thống tuy�n truyền lừa dối của Đảng. C�c em đang học lịch sử v� đang l�m lịch sử. Trong c�c cuộc xung đột về l�nh thổ, bằng chứng v� di t�ch lịch sử th� b�n n�o cũng c� thể c� nhưng văn kiện ph�p l� được cả hai b�n xung đột c�ng nhận th� thường rất hiếm hoi. T�i nhớ c� đọc đ�u đ� một c�u chuyện b�n lề c�c cuộc đ�m ph�n giữa Trung Quốc v� Li�n X� về chủ quyền của c�c đảo Tr�n Bảo, Ẩn Long v� Hắc Hạt Tử trong khu vực s�ng Ussuri. Theo c�u chuyện n�y, mỗi lần c� một cuộc họp giữa hai nước, ph�i đo�n Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy t�i liệu v� đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc tr�n c�c đảo n�y. Trung Quốc l� một nước đ�ng d�n, diện t�ch rộng, c� nền văn minh ph�t triển rất sớm, c� chiều d�i lịch sử mấy ng�n năm, do đ�, việc tổ ti�n họ đ� từng đến, từng đi đ�nh c�, từng đặt ch�n, từng m� tả trong văn chương thơ ph� về c�c h�n đảo đ� th� cũng kh�ng c� g� l� đ�ng ngạc nhi�n. Những t�i liệu ph�a Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ g�p nhặt được d� bao nhi�u cũng kh�ng thuyết phục được Li�n X� về chủ quyền của Trung Quốc tr�n l�nh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đ�nh rồi đ�m, một hiệp ước bi�n giới Nga � Hoa đ� được k� kết lần đầu v�o th�ng 10 năm 1995 v� lần nữa v�o th�ng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghi�ng về ph�a Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm so�t cả hai đảo Tr�n Bảo, Ẩn Long v� một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước n�y được k� kết v�o năm 1969, với nội dung tương tự, c� lẽ nh�n d�n Trung Quốc đ� được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng v� ng�y k� đ� trở th�nh ng�y lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước k� kết v�o th�ng 10 năm 2004 tr�i qua gần như trong �m thầm. Cả Trung Quốc v� Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, l� do ch�nh của xung đột kh�ng phải l� l�nh thổ m� l� sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đ�n anh trong phong tr�o cộng sản quốc tế. Về ph�a Nga, sau khi Li�n X� sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị ph� sản, v� do đ� sự xung đột chủ quyền tr�n c�c đảo vốn kh�ng chứng tỏ một tiềm năng kinh tế n�o đ� kh�ng c�n l� do để k�o d�i th�m. Việc xung đột l�nh thổ với Việt Nam th� kh�c. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tr�n Ho�ng Sa v� Trường Sa, ch�nh quyền Trung Quốc kh�ng cần phải chở một toa xe lửa t�i liệu hay bằng chứng n�o cả. Những lời tuy�n bố của ph�t ng�n vi�n ch�nh phủ Trung Quốc d� n�i v�ng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho c� lệ, cuối c�ng cũng chỉ r�t trong t�i ra một văn kiện kh� mới mẻ, rất hợp ph�p, d�i vỏn vẹn 121 chữ t�nh cả phần ch�o hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đ� l� c�ng h�m của Thủ tướng ch�nh phủ Việt Nam D�n chủ Cộng ho� Phạm Văn Đồng. Nội dung ch�nh của c�ng h�m: �Thưa đồng ch� Tổng l�. Ch�ng t�i xin tr�n trọng b�o tin để đồng ch� Tổng l� r�: Ch�nh phủ nước Việt Nam D�n chủ Cộng ho� ghi nhận v� t�n th�nh bản tuy�n bố ng�y 4-9-1958 của Ch�nh phủ nước cộng ho� nh�n d�n Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Ch�nh phủ nước Việt Nam D�n chủ Cộng ho� t�n trọng quyết định ấy v� sẽ chỉ thị cho c�c cơ quan Nh� nước c� tr�ch nhiệm triệt để t�n trọng hải phận 12 hải l� của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng ho� nh�n d�n Trung Hoa tr�n mặt bể. Ch�ng t�i xin gửi đồng ch� Tổng l� lời ch�o tr�n trọng�. Khi đọc bản tuy�n bố n�y lần đầu c�ch đ�y kh� l�u th� thật t�i kh�ng tin đ� l� văn bản thật m� l� t�i liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ l� sản phẩm tuy�n truyền của một tổ chức chống cộng n�o đ� dựng l�n để b�u xấu Đảng. Hai tiếng Ho�ng Sa v� Trường Sa th�n thương quen thuộc từ bao đời l� một phần của ng�n ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem l� phần da thịt, m�u xương bất khả ph�n ly của th�n thể Việt Nam. C�c ch�nh phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia c� quyền kh�ng c�ng nhận Ho�ng Sa v� Trường Sa l� của Việt Nam hay ho�n to�n của Việt Nam. Nh�n d�n Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đ�i Loan, Brunei cũng c� thể cho rằng Trường Sa l� đất của họ. T�nh cảm đất nước l� một t�nh cảm thi�ng li�ng nhưng cũng �t nhiều bảo thủ m� d�n tộc n�o cũng c�. T�nh cảm đ� cũng cần được xem x�t v� t�n trọng. C�c quốc gia tranh chấp phải giới thiệu c�c bằng chứng lịch sử, c�c văn kiện ph�p l� trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo v� t�m một giải ph�p ph� hợp với c�ng ph�p quốc tế cũng như quyền lợi của c�c nước trong v�ng tranh chấp. Những h�n đảo kh�ng người ở, những triền đ� nhọn nh� l�n giữa đại dương m�nh m�ng từ mấy ng�n năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở th�nh quan trọng, việc xung đột v� thế l� điều kh� tr�nh, tuy nhi�n, sự kiện một �ng thủ tướng Việt Nam nh�n danh nước Việt Nam để c�ng nhận hai quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa l� của Trung Quốc m� kh�ng cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, kh�ng cần tranh luận, hội họp, kh�ng cần phải bắn nhau một vi�n đạn n�o, quả l� một việc kh�ng thể n�o tin được v� đương nhi�n cũng kh�ng thể n�o chấp nhận được.
Tại sao họ đ� l�m như thế? Họ bị �p lực của Trung Quốc? Kh�ng. Kh�ng c� một tối hậu thư n�o của nh� cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Ho�ng Sa v� Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu kh�ng họ sẽ d�ng v� lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt bi�n giới Lạng Sơn hay đổ bộ l�n Hải Ph�ng. Cho d� c� tối hậu thư đi nữa th� cũng kh�ng phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của qu�n x�m lược. Trước đ�y, c�c vua L�, vua Trần đ� nhận v� mới đ�y Ho�ng Diệu, Nguyễn Tri Phương đ� nhận, v� c�c anh h�ng d�n tộc đ� chọn chiến đấu tới c�ng v� đ� chết tr�n nắm đất của tổ ti�n thay v� d�ng th�nh cho giặc. Tr�n thế giới chưa c� một cuộc ph�n định bi�n giới n�o giữa hai quốc gia m� kh�ng phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về c�c giới hạn tr�n biển cả cũng như lằn ranh tr�n đất liền. Trong c�c nguồn t�i nguy�n thi�n nhi�n, đất l� quan trọng nhất. C�u �tấc đất tấc v�ng� kh�ng chỉ đ�ng cho trường hợp một nước đất hẹp người đ�ng như Việt Nam m� đ�ng cho bất cứ quốc gia n�o tr�n thế giới. H�y lấy trường hợp Bắc H�n l�m v� dụ. Nếu theo d�i c�c hội nghị về bi�n giới giữa Trung Quốc v� Bắc H�n ch�ng ta c� thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn g� chắc l� được nấy, muốn vẽ bi�n giới đ�u th� vẽ. Kh�ng. Bắc H�n tự c� lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đ� lệ thuộc v�o Trung Quốc kh�ng những ch�nh trị, ngoại giao m� cả từng ch�n cơm manh �o, nhưng họ nhất định kh�ng nhượng cho Trung Quốc một tấc đất n�o qua c�c hội nghị về đường bi�n giới d�i 1416 kilom�t giữa hai nước. Mặc d� cai trị đất nước bằng một l� thuyết ngu d�n hoang tưởng, bằng một ch�nh s�ch độc t�i sắt m�u bị phần lớn nh�n loại rẻ khinh, xa l�nh, cha con Kim Nhật Th�nh �t ra c� một điểm đ�ng khen m� giới l�nh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam kh�ng c�, đ� l� quyết t�m giữ đất của tổ ti�n họ để lại. Nhiệt t�nh cao độ của giới l�nh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đ� l�m kh�ng chỉ Mao m� cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhi�n hết sức. T�i tin bộ ch�nh trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đ� tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phi�n họp t�m hiểu, ph�n t�ch, đ�nh gi� nội dung c�ng h�m của �ng Phạm Văn Đồng để xem ph�a Việt Nam c� ẩn � g� trong 121 chữ đ� kh�ng, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện d�ng hai quần đảo một c�ch dễ d�ng như thế. Kh�ng, kh�ng c� ẩn �, �m mưu n�o cả ngo�i việc chứng tỏ l�ng trung th�nh tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đ�ng v� Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cấp l�nh đạo Trung ương Đảng thời đ� c�n lo ngại đ�n anh Trung Quốc kh�ng tin v�o l�ng dạ ch� th�nh của m�nh n�n đ� cho đăng to�n bộ nội dung c�ng h�m tr�n b�o Nh�n d�n ng�y 22 th�ng 9 năm 1958 để to�n Đảng, to�n d�n v� to�n thế giới biết hai quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa từ nay kh�ng c�n l� của Việt Nam nữa. Kh�ng giống như hiệp ước bi�n giới Việt Trung v�o c�c năm 1999 v� năm 2000 được k� kết l�n l�t đến mức ngay cả những �ng b� đại biểu quốc hội khi đưa tay ph� chuẩn cũng kh�ng biết nội dung hiệp ước n�i g�, ch�nh phủ Việt Nam D�n chủ Cộng ho�, qua c�ng h�m 1958, chẳng những �ghi nhận�, �t�n th�nh� m� c�n chỉ thị cho c�c cấp �triệt để t�n trọng� hải phận 12 hải l� kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, c� đ�nh k�m lu�n bản đồ về đường ranh giới l�nh hải, bao gồm cả Ho�ng Sa lẫn Trường Sa. Tại sao họ đ� l�m như thế? Họ kh�ng r�nh lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm th�a c�u �Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt� v� kh�ng cảm th�ng cho sự chịu đựng v� bờ bến của tổ ti�n suốt một ng�n năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển t�m ngọc trai, l�n non t�m sừng t�, ng� voi, bạc v�ng ch�u b�u hay sao? T�i kh�ng nghĩ vậy, v� �t nhất trong số 11 ủy vi�n Bộ Ch�nh trị thời đ� cũng c� một người đ� từng dạy sử. Họ l�m thế chỉ v� niềm tin tuyệt đối v�o chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin m� qu�ng v�o một x� hội đại đồng đ� l�m giới l�nh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đ�ng, Lưu Thiếu Kỳ, Chu �n Lai v� những người cộng sản Trung Quốc m� họ đang thần phục l� những bậc th�nh hiền chứ kh�ng phải l� giống d�n đ� h�ng ng�n năm đ�y đoạ tổ ti�n Việt Nam. Nguy�n Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đ� th� nhận sự lệ thuộc v�o Trung Quốc hay đ�ng hơn l� quan hệ chủ tớ n�y trong một cuộc họp b�o tại H� Nội ng�y 2 th�ng 12 năm 1992 v� được Th�ng tấn x� Việt Nam loan ng�y 3 th�ng 12 năm 1992: �T�nh hữu nghị Việt � Trung đang thắm thiết v� hai nước ho�n to�n tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc l� một nguồn hỗ trợ to lớn v� gi� trị. Trong tinh thần đấy th� do t�nh thế cấp b�ch, quan điểm của l�nh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc c�ng bố chủ quyền của họ tr�n c�c quần đảo Ho�ng Sa v� Trường Sa) l� cần thiết v� n� phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.� Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc m� �ng Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp b�o n�u tr�n, tương tự như khi �ng Phạm Văn Đồng trả lời b�o Far Eastern Economic Review th�ng 3, 1979 hay hầu hết c�c l�nh đạo Đảng kh�c đ� nhiều lần viện dẫn l� �cuộc chiến chống Mỹ cứu nước�, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số �t nh�n vi�n thuộc Nh�m Cố vấn Qu�n sự (Military Assistance Advisory Group), l�m g� c� qu�n Mỹ để m� chống? Tại sao họ đ� l�m như thế? Khi đem hai quần đảo v� c�ng quan trọng của đất nước về chiến lược qu�n sự cũng như về tiềm năng kinh tế d�ng hiến cho Trung Quốc để gọi l� � bảo vệ tổ quốc� th� tổ quốc m� c�c giới l�nh đạo Đảng cần phải bảo vệ l� tổ quốc n�o? Như giải th�ch trong hầu hết t�i liệu học tập, gi�o tr�nh trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản kh�ng c� tổ quốc theo nghĩa th�ng thường m� ch�ng ta thường hiểu. Kh�i niệm tổ quốc đối với giới l�nh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam kh�ng chỉ đơn thuần l� dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi C� Mau m� bao nhi�u thế hệ tiền nh�n đ� d�y c�ng g�n giữ, kh�ng phải chỉ gồm 40 triệu người ng�y đ� hay 80 triệu người ng�y nay c� c�ng huyết thống, c�ng một ng�n ngữ, c�ng một lịch sử, m� phải l� tổ quốc x� hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong b�n tay sắt của Đảng Cộng sản. Mụch đ�ch của Đảng như đ� đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuy�n Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: �Giải ph�ng ho�n to�n miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc c�ch mạng d�n tộc d�n chủ nh�n d�n ở miền Nam.� Năm 1958, một nửa nước chưa trở th�nh chủ nghĩa x� hội v� do đ� mục đ�ch của Đảng chưa ho�n th�nh. Để th�n t�nh miền Nam v� ho�n th�nh mục đ�ch cộng sản h�a cả nước, họ cần s�ng đạn của Li�n X� v� Trung Quốc. Ho�ng Sa v� Trường Sa l� gi� m� giới l�nh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn tr�i m�n, mấy trăm ng�n khẩu AK, mấy ng�n chiếc tăng đủ loại để đem về c�y x�o l�n c�c th�nh phố miền Nam, đốt ch�y th�n l�ng miền Nam v� t�n s�t nhiều triệu d�n miền Nam v� tội. Tuổi trẻ phải l�m g�? L�nh đạo Đảng đ�, đang v� chắc sẽ l�m tất cả những g� họ c� thể l�m để ngăn cản c�c cuộc biểu t�nh d� �n ho� v� bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu t�nh, tuần n�y họ chụp mũ c�c em chống ph� trật tự x� hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đ�n �p v� tuần sau nữa c� thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết �n, t� đ�y. Tuy nhi�n, lịch sử đ� nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ c�n tr�ng cậy v�o c�c phương tiện bạo lực trấn �p để tồn tại, chỉ c�n biết sử dụng bộ m�y c�ng an kềm kệp để duy tr� quyền cai trị, ng�y t�n của chế độ đ� chỉ l� vấn đề thời gian. H�nh động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh c�ng an bắn v�o cuộc biểu t�nh của nh�n d�n Rumania s�ng ng�y 17 th�ng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản �n tử h�nh d�nh cho vợ chồng �ng ta một tuần sau đ�. L�nh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời l� tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh s�t trong tay, cuối c�ng cũng phải chết trong t�. Erich Honecker hung thần Đ�ng Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Uganda hay Mobuto bạo ch�a của Uganda đều đ� gởi tấm th�n t�n tr�n đất kh�ch, để lại tiếng xấu mu�n đời. Nếu giới l�nh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam c�n nghĩ đến tương lai của ch�nh họ v� c�n biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về ph�a d�n tộc. Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, d�n chủ, nh�n bản v� thịnh vượng l� con đường d�n tộc v� cũng chỉ c� một Việt Nam tự do, d�n chủ, nh�n bản v� thịnh vượng th� c�c thế hệ Việt Nam mai sau mới c� cơ may gi�nh lại được Ho�ng Sa v� Trường Sa. Trần Trung Đạo
|